Thu Hứng
- Nội dung đoạn trích
- Hoàn cảnh sáng tác
- Bộ sách
CẢM XÚC MÙA THU
(THU HỨNG(1) 秋興 – Bài 1)
Bản chữ Hán
- 玉露凋傷楓樹林
- 巫山巫峽氣蕭森
- 江間波浪兼天湧
- 塞上風雲接地陰
- 叢菊兩開他日淚
- 孤舟一繫故園心
- 寒衣處處催刀尺
- 白帝城高急暮砧
Phiên âm
- Ngọc lộ(2) điêu thương(3) phong thụ lâm
- Vu sơn(4), Vu giáp(5) khí tiêu sâm(6).
- Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng(7)
- Tái thượng(8) phong vân tiếp địa âm(9).
- Tùng cúc(10) lưỡng(1*) khai tha nhật(11) lệ
- Cô chu nhất hệ(12) cố viêm tâm (13).
- Hàn y xứ xứ thôi(14) đao xích(15)
- Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
*So sánh và phân tích dị văn
(1*) lưỡng 兩 : Một số bản chép là trùng 重. Lưỡng khai: (đã) hai lần nở. Trùng khai: nở thêm một lần nữa.
* Giải nghĩa từ ngữ
(1) hứng 興: cảm hứng, cảm xúc
(2) ngọc lộ 玉露: giọt sương như ngọc, sương giá.
(3) điêu thương 凋傷: làm tàn rạc, làm xơ xác.
(4) Vu sơn 巫山: núi Vu, nay thuộc thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc.
(5) Vu giáp 巫峽: kẽm Vu, cũng có tên là Đại Giáp, là hẻm núi kéo dài 46 km, từ huyện Vu Sơn ( thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) đến huyện Ba Đông (thuộc Hồ Bắc, Trung Quốc).
(6) tiêu sâm 蕭森: u tịch lạnh lẽo, lạnh lẽo âm u.
(7) kiêm thiên dũng 兼天湧: vọt lên tận trời, vọt lên liền với trời
(8) tái thượng 塞上: trên ải, ở đây chỉ dãy núi ở Quỳ Châu, vì thế núi hiểm trở như trốn quan ải nên dùng từ tái.
(9) âm 陰: ám, u ám
(10) tùng cúc 叢菊: khóm cúc
(11) tha nhật 他日: ngày trước, ở đây chỉ thời gian bị lưu lạc xa quê
(12) nhất hệ 一繫: buộc mãi
(13) cố viên tâm 故園心: tình cảm dành cho mảnh vườn xưa (chỉ Trường An, vì Đỗ Phủ coi Trường An là quê hương thứ hai).
(14) thôi 催: thúc giục, giục giã.
(15) đao xích 刀尺: dao và thước, những dụng cụ dùng khi may quần áo.
(16) châm 砧: cái chày đá dùng để đập quần áo, giặt quần áo cho sạch.
Dịch nghĩa
Bản dịch nghĩa 1:
- Sương giá làm tàn rạc cả rừng phong
- Khí thu ở núi Vu và kẽm Vu ảm đạm mịt mờ.
- Trong khoảng giữa hai bờ sông sóng nước vọt lên tận trời
- Trên ải, gió và mây chạm tới mặt đất ảm đạm.
- Khóm cúc nở hoa lần thứ hai (thế là đã hai năm, nên ta) khóc giọt nước mắt ngày xa quê,
- Con thuyền lẻ loi buộc mãi tình cảm với mảnh vườn cũ.
- Nơi nơi giục giã dao thước may áo rét,
- Thành Bạch Đế cao vang dồn dập tiếng chày đập giặt quần áo lúc chiều tối.
(Theo SGK NGữ văn 10 Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.47)
Bản dịch nghĩa 2:
- Sương móc trắng xóa làm tiêu điều cả rừng cây phong,
- Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt.
- Giữa lòng sông, sóng vọt lên tận lưng trời,
- Trên cửa ải, mây sa sầm giáp mặt đất.
- Khóm cúc nở hoa đã hai lần (làm) tuôn rơi nước mắt ngày trước,
- Con thuyền lẻ loi buộc mãi tấm lòng nhớ nơi vườn cũ.
- Chỗ nào cũng rộn ràng dao thước để may áo rét,
- Về chiều, thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập áo nghe càng dồn dập.
(Theo SGK Ngữ văn Cánh Diều tập 1, NXB Đại học Huế, 2018, tr.46)
Dịch thơ
Bản dịch thơ 1:
- Lác đác rừng phong hạt móc sa,
- Ngàn non hiu hắt khí thu lòa.
- Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
- Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
- Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
- Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
- Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
- Thành Bạch, chày vang bóng ác tà.
(Nguyễn Công Trứ dịch, Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà Nội)
Bản dịch thơ 2:
- Móc trắng rừng phong vẻ úa gầy,
- Vu sơn, Vu giáp khí thu dày.
- Lòng sông sóng tận lưng trời nhảy,
- Đầu ải mây sà mắt đất bay.
- Lệ cũ nở hai mùa cúc đó,
- Lòng quê buộc một chiếc thuyền đây.
- Nơi nơi áo lạnh đòi dao thước,
- Bạch Đế thành hôm rộn tiếng chày.
(Khương Hữu Dụng dịch, theo Hoàng Trung Thông, Thơ Đỗ Phủ, NXB Văn học, 1962)
*Gợi ý so sánh với bản dịch nguyên văn
– Câu 1: Nguyên văn nhấn mạnh sự tác động của sương giá, đã tàn phá dữ dội rừng cây phong, rừng cây phong là đối tượng chịu tác động, bản dịch thơ dịch thoát ý này.
– Câu 2: Bản dịch không dịch 2 địa danh Vu sơn, Vu giáp. Từ tiêu sâm trong nguyên văn diễn tả sự tiêu điều, tê tái, ảm đạm của khí thu, cảnh thu. Các cụm từ “khí thu lòa” chưa biểu đạt hết ý này.
– Câu 5,6: Nguyễn văn, khóm cúc đã hai lần nở hoa, cả hai lần đều làm tuôn rơi nước mắt, đều xòe cánh hoa bằng lệ u buồn. Bản dịch dịch xuất thần ý này, năm ngoái ta đến đây gặp thu buồn, hoa cúc nở tuôn nước mắt; năm nay lại là mùa thu, vẫn u buồn như cũ, nên vẫn dòng nước mắt u buồn ấy, đã tuôn rồi, nay lại “tuôn thêm” (dòng lệ cũ). Con thuyền cô đơn (con thuyền muốn xuôi Trường Giang để tìm đường về quê) cứ bị cột chặt mãi, tưởng như lòng quê thắt lại…
* Ảnh tư liệu gốc của tác phẩm

Năm 763, loạn An Sử tới hồi kết thúc. Nhưng tình hình loạn lạc không vì thế mà chấm dứt, nạn ngoại xâm, cát cứ diễn ra khắp nơi do sự suy yếu của chính quyền trung ương. Mùa thu năm 766, Đỗ Phủ vẫn đang sống những ngày tháng phiêu bạt, ốm đau, khốn khó tại Quỳ Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc) nên cảm thời thế và về viết một chùm tám bài thơ thất ngôn bát cú nổi tiếng Thu hứng. Bài được chọn dạy trong chương trình phổ thông là bài thơ đầu tiên.
SGK Ngữ văn Cánh Diều lớp 10 tập 1
SGK Ngữ văn Kết nối tri thức với cuộc sống lớp 10 tập 1
1 comment