Tỏ lòng
Tên tác phẩm: Tỏ lòng
Tác giả: Phạm Ngũ Lão
Chữ viết: Chữ Hán
Thể loại: Thơ Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
- Nội dung đoạn trích
- Hoàn cảnh sáng tác
- Bộ sách
Tỏ Lòng(*)
(Thuật hoài 述懷)
Bản chữ Hán
- 橫槊江山恰幾秋,
- 三軍貔虎氣吞牛。
- 男兒未了功名債,
- 羞聽人間說武侯。
Phiên âm:
- Hoành(1) sóc giang sơn cáp kỉ thu(2),
- Tam quân(3) tỳ(4) hổ khí thôn ngưu(5).
- Nam nhi vị liễu(6) công danh trái(7),
- Tu thính(8) nhân gian thuyết Vũ hầu(9).
Dịch nghĩa:
- Cầm ngang ngọn giáo trân giữ non sông vừa chăn mây thu,
- Ba quân dũng mãnh như hố báo khí thế nuốt trâu.
- Thân nam nhi mà chưa trả xong nợ công danh,
- Thì luống thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu.
Dịch thơ:
- Múa giáo non sông trải mấy thu,
- Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu.
- Công danh nam tử còn vương nợ,
- Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
PHẠM NGŨ LÃO
(BÙI VĂN NGUYÊN dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 1I,
NXB Văn học, Hà Nội, 1976)
*Giải nghĩa từ ngữ
(1) Hoành 橫: ngang, nằm ngang ở đây dùng làm động từ với nghĩa “cầm ngang”, “giữ ngang”, “giơ ngang”, thể hiện tư thế người anh hùng thời đại; hoành sóc (sóc còn có âm là sáo): cầm ngang ngọn giáo.
(2) cáp kỉ thu恰幾秋: vừa vặn mấy năm trời, trải mấy năm ròng. Thu là mùa thu, ở đây được dùng để chỉ năm tháng. “Mấy năm” vừa có ý nói sự nghiệp cá nhân của Phạm Ngũ Lão, về dưới trướng của Trần Hưng Đạo cầm quân dẹp giặc đã trải mấy năm ròng; vừa gợi khoảng thời gian quân dân nhà Trần đồng lòng kháng chiến chống giặc Mông – Nguyên (lần thứ hai) đã mấy năm trời.
(3) tam quân三軍: ba quân, chỉ quân đội một quốc gia nói chung. Các sách vở từ trước tới nay đều giải thích tam quân là 3 cánh quân gồm: tiền quân, hậu quân, trung quân hoặc tả quân, trung quân, hữu quân – là cách tổ chức binh lính trong tiến quân của quân đội thời xưa, gồm thủy binh, kỵ binh, bộ binh. Ở đây, theo chúng tôi, tam quân là chỉ tổ chức phiên chế quân đội thời xưa, quân là một đơn vị quân đội, nét nghĩa này còn nằm trong khái niệm quân đoàn, quân lữ,… hiện nay. Theo quy định của binh chế, một quốc gia tự chủ (chư hầu lớn) có quyền có từ 3 quân, chư hầu vừa có 2 quân, chữ hầu nhỏ có 1 quân, các nước quá nhỏ (phụ dung, chư hầu của chư hầu) không có quyền có quân đội. Mỗi quân gồm 12500 lính, chia làm 5 sư (sư có 2500 lính), mỗi sư chia làm 5 lữ (lữ có 500 lính), mỗi lữ chia làm 5 tốt (tốt có 100 lính), mỗi tốt chia làm 5 lượng (lượng có 25 người), mỗi lượng chia làm 5 ngũ (ngũ có 5 lính); quân là đơn vị lớn nhất, ngũ là đơn vị nhỏ nhất, gộp lại có từ quân ngũ chỉ quân đội nói chung. Về sau, có sự biến đổi về phân loại số binh sĩ nhưng đại để cũng nương theo luật đó. Ở Việt Nam, Đinh Tiên Hoàng chia đội quân thành 5 hạng: Đạo gồm 10 quân, quân gồm 10 lữ, lữ gồm 10 tốt, tốt gồm 10 ngũ, ngũ có 10 người; nhà Trần lại phân ra làm quân và đô; mỗi quân gồm 30 đô (mỗi đô gồm 80 người)… Như vậy, tam quân trong bài thơ này thể hiện sức mạnh của quân đội một nước tự chủ, biểu thị niềm tự hào của tác giả.
(4) tỳ hổ貔虎: tỳ là tên con đực của giống thú tỳ hưu, một loài dã thú, thuộc loài báo, có bản tính mạnh mẽ, cương cường. Tỳ hổ: hổ báo, dùng để nói về sự dũng mãnh của quân đội.
(5) thôn ngưu吞牛: có thể hiểu theo hai ngũa: 1. Sách Thi tử Trung Hoa có câu: “giống hổ báo tuy nhỏ, lưng chưa có vằn, nhưng đã có sức nuốt được trâu). Thơ của Đỗ Phủ (đời Đường, Trung Quốc) có câu: Tiển nhi ngũ tuế khí thôn ngưu (Trẻ nhỏ 5 tuổi đã có khí thế mạnh mẽ trừng như nuốt trôi cả trâu; 2. Ngưu ở trong câu thơ cũng có thể hiểu là sao Ngưu, “khí thôn Ngưu” có nghĩa là hào khí dũng mãnh bốc lên làm mờ cả sao Ngưu. Nói chung, cả hai nghĩa đều muốn nhấn mạnh vào khí thế dũng mãnh của quân sĩ.
(6) liễu了: chấm dứt, xong, hoàn tất, kết thúc. Vị liễu: chưa xong, chưa hoàn tất; ở đây có nghĩa là chưa trả xong (nợ).
(7) công danh trái功名債: nợ công danh, ở đây muốn nói đến sự nghiệp giúp dân giúp nước, để lại danh tiếng ở đời. Tư tưởng nam nhi của Nho học công danh là món nợ phải trả, đời hỏi người con trai phải lập được công trạng, không chấp nhận lối sống hèn mọn, tiểu kỷ.
(8) tu羞: hổ thẹn, cùng nghĩa với từ tu thính: hổ thẹn khi nghe Luận ngữ chép lời Khổng Tử có câu đại ý: Người ta không thể không biết hổ thẹn là gì, nếu không biết hổ thẹn những điều đáng hổ thẹn thì kẻ ấy là hạng vô sỉ.
(9) Vũ hầu武侯: tức Gia Cát Lượng, quân sư của Lưu Bị (thời Tam Quốc – Trung Hoa), được phong tước Vũ Lượng hầu, gọi tắt là Vũ hầu. Gia Cát Vũ hầu lập được công trạng lớn, lưu phương thanh sử – để lại tiếng thơm trong sử sách, trở thành biểu tượng của khát vọng lập công.
So sánh và phân tích dị văn
(*) Trần triều thế phả hành trạng ghi nhan đề bài thơ này là Tự ngâm 自 吟, tự: tự mình, ngâm: ngâm nga, ngâm ca; nghĩa không khái quát cao và gắn sâu sắc với nội dung tác phẩm như thuật hoài述懷.
Gợi ý so sánh với bản dịch nguyên văn
– Câu 1: Nguyên văn là hoành sóc – cầm ngang ngọn giáo, chỉ tư thế anh hùng, vững chãi, đối diện với (trọng trách bảo vệ) non sông của người tráng sĩ; cụm từ “múa giáo” không thể hiện được ý nghĩa này.
– Câu 2: Có thể chấp nhận tính đa nghĩa của hình tượng trong nguyên văn.
– Câu 3 – 4: Do hạn định bởi câu chữ – vận luật, bản dịch không thể hiện rõ mối quan hệ biểu thị ý biện luận (vốn bị tỉnh lược) trong nguyên văn, thể hiện triết lí sống, triết lí hành động của tác giả.
Bài thơ “Thuật hoài” được viết trong khoảng thời gian quân dân Đại Việt tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên lần thứ hai; lời thơ ngắn gọn, hàm súc, âm hưởng mạnh mẽ, hào hùng; thể hiện được khí thế và ý thức trách nhiệm của trang nam nhi thời loạn. Hai câu kết bài thơ được truyền tụng, thể hiện sâu sắc triết lí hành động, khát vọng lập công của kẻ làm trai, cũng là của con người thời đại. Ý 2 câu thơ này từng được một số tài liệu lí giải là: Phạm Ngũ Lão thẹn vì mình còn kém tài trong việc giúp vua giúp nước (so với Vũ hầu giúp Lưu Bị trung hưng Hán thất). Tiêu biểu cho cách lý giải này, bản dịch nghĩa bài thơ này trong Văn 10 hiểu như sau: Kẻ nam nhi này chưa trả xong nợ công danh/ Nên thẹn khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu; tiếp đó, phần chú giải của sách này giải thích: “ Ở đây, Phạm Ngũ Lão thẹn vì thấy mình không đủ mưu chước như Vũ hầu để hoàn thành sứ mạng đối với đất nước, cũng là để có công với đời”
Post Comment