Đây thôn Vĩ Dạ
Xuất xứ: Nằm trong tập “Thơ điên” sáng tác năm 1938 sau đổi tên thành “Đau thương”
- Nội dung đoạn trích
- Hoàn cảnh sáng tác
- Bộ sách
VĂN BẢN 1:
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
- Sao anh không về chơi thôn Vĩ(1)?
- Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
- Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
- Lá trúc che ngang mặt chữ điền(2)
- Gió theo lối gió, mây đường mây
- Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
- Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
- Có chở trăng về kịp tối nay?
- Mơ khách đường xa, khách đường xa
- Áo em trắng quá nhìn không ra
- Ở đây sương khói mờ nhân ảnh(3)
- Ai biết tình ai có đậm đà?
(Đau thương, Hàn Mặc Tử, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1995)
*Giải nghĩa từ ngữ
(1) Thôn Vĩ: thôn Vĩ Dạ (có bản chép là Vì Giã, từ gốc là Vĩ Dã, vĩ: lau, dã: cánh đồng), nằm ở ngoại vì thành phố Huế, có phong cảnh vườn tược rất xinh xắn, nên thơ.
(2) Mặt chữ điển: mặt vuông chữ điển, một kiểu khuôn mặt phúc hậu (theo quan niệm tướng mạo thời xưa).
(3) Nhân ảnh: hình người, bóng người.
VĂN BẢN 2:
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
HÀN MẶC TỬ
- Sao anh không về chơi thôn Vĩ(1)?
- Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
- Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
- Lá trúc che ngang mặt chữ điền(2)
- Gió theo lối gió, mây đường mây
- Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
- Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
- Có chở trăng về kịp tối nay?
- Mơ khách đường xa, khách đường xa
- Áo em trắng quá nhìn không ra
- Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
- Ai biết tình ai có đậm đà?
(Hàn Mặc Tử – Tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục, 2009, tr. 60-61)
*Giải nghĩa từ ngữ
(1) Thôn Vĩ: thôn Vĩ Dạ (có bản chép là Vì Giã, từ gốc là Vĩ Dã, vĩ: lau, dã: cánh đồng), nằm ở ngoại vì thành phố Huế, có phong cảnh vườn tược rất xinh xắn, nên thơ.
(2) Mặt chữ điển: mặt vuông chữ điển, một kiểu khuôn mặt phúc hậu (theo quan niệm tướng mạo thời xưa).
Được khơi nguồn từ mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với Hoàng Thị Kim Cúc.
Post Comment