Hai cõi U Minh
Xuất xứ: Trích trong tập truyện cùng tên.
- Nội dung đoạn trích
- Hoàn cảnh sáng tác
- Bộ sách
HAI CÕI U MINH
(Trích)
Nơi giáp giới làng Đông Thái và làng Vĩnh Hòa ở U Minh, có người còn gìn giữ một di tích lạ lùng: một manh áo đen bạc màu, cất giấu cẩn thận trong cái hộp bằng cây.
Nắp hộp ít khi mở ra cho ai xem vì chủ nhân cho rằng làm vậy thì xúc phạm tới vong hồn người từng mặc chiếc áo đó. Có từ trăm năm về trước.
Nhân lúc cao hứng, chúng tôi xem qua manh áo nọ rồi thò tay rờ thử. Chủ nhân vội vã gạt tay chúng tôi ra, đậy nắp hộp lại và nói:
– Đừng xúc phạm. Nó quý hơn ngọc ngà châu báu, nó linh thiêng hơn cái sắc thần ở đình làng.
[…] Rồi chủ nhân kể lại câu chuyện nghe qua thì hơi li kì, nhưng gẫm(1) lại cũng thông thường, có thể xảy ra.
(Lược một phần: Khi đó U Minh là vùng đất hoang sơ. Đất ở mé biển, ven bờ là của ông Tổng Bá – một điền chủ độc ác. Muốn có đất mới chỉ có thể mở về phía rừng. Ngày ấy, mọi người rất sợ cọp. Cai Thoại(2) (người đã từng theo Nguyễn Trung Trực(1) phá đồn Kiên Giang của giặc Pháp) đến và bắt đầu chinh phục cọp. Lần đầu, Cai Thoại thò tay lấy khúc xương mắc trong họng cọp. Lần thứ hai, Cai Thoại giúp con cọp bị thương nặng có được thức ăn…rồi cọp tự bỏ đi. Làng xóm bắt đầu được hình thành… nhưng cọp vẫn còn đó. Đoạn trích sau đây kể tiếp chuyện về Cai Thoại).
Nhưng, ông cọp thỉnh thoảng lại đến đòi ăn, vấn đề thật nan giải. Chẳng lẽ cả bọn thay phiên nhau săn heo rừng để cúng cho cọp. Vài người đưa ý kiến:
– Xin ông trổ tài, giết hoặc đuổi ổng qua xứ khác.
Ông đáp:
– Anh em chưa trở thành điền chủ mà đã lười biếng, sanh tệ(4). Nếu giết con này, biết đâu còn con nữa ở trong rừng sâu chạy tới. Đuổi nó đi, tức là gieo tai hoạ cho người lân cận. Rủi mai chiều, tôi mắc dịch, mắc giói(5) chết thì chẳng lẽ anh em bỏ xóm?
– Ông nói chí lí. Chúng tôi sợ lần hồi(6) cọp về xóm để ăn heo nhà, trâu nhà.
Vài ngày sau, ông Cai nài nỉ:
– Ráng săn con heo rừng hay con nai giùm cho tôi, lần chót.
Ông Cai nhặt cái đùi heo trao cho anh chàng cảm tử hôm trước:
– Đi theo tôi.
Ra khỏi xóm chừng mười công(7) đất, ông bảo anh ta đứng một chỗ. Ông chạy vào rừng sâu, khi trở về có con cọp già lẽo đẽo phía sau.
Anh nọ xám mặt:
– Trời ơi! Làm sao tôi đốn tre bứt mây làm cần câu cho kịp?
Ông nghiêm mặt:
– Trận này mới biết thắng bại. Chú mày đứng yên một chỗ. Có tôi đây. Nhưng mà chú mày cứ coi như là tôi vắng mặt.
Cọp tới trước mặt anh nọ. Anh ta luýnh quýnh, đem cái đùi heo rừng mà giấu sau mông.
Ông Cai nói:
– Được rồi! Đứng im! Hễ chạy là cọp ăn thịt anh liền. Mọi khi tôi kêu bằng “chú em”, hôm nay tôi kêu bằng “anh”. Anh chạy trốn thì mọi người chạy theo, về xóm của Tổng Bá để ăn mày.
Cọp dừng bước, lè lưỡi, cúi đầu, rồi từ phía sau lưng anh nọ, nó bước chậm rãi từng bước.
Ông Cai nói từng chặp:
– Anh coi chừng, nó lại gần tôi. Đừng day mặt, nó khinh dễ(8). Nó tới sát đó. Nó muốn ăn cái đùi heo rừng. Hễ nó táp(9) là buông tay ra.
Cọp táp đùi heo, quay mặt, chạy tuốt. Ông Cai trố mắt. Anh nọ như chết đứng tại chỗ.
Ông cười to:
– Đã là anh hùng thì phải tỉnh táo về nhà nhậu cho vui chớ. Đứng đó một mình, ổng trở lại. Cám ơn anh. Xong xuôi rồi. Gửi lời thăm bà con trong xóm. Tôi đi đây.
Anh nọ như tỉnh giấc chiêm bao:
– Ông Cai đi đâu?
Ông Cai đã khuất dạng.
Và từ đó về sau, chẳng ai gặp ông nữa.
Dân chúng xóm biển lần hồi bỏ Tổng Bá, lên U Minh Thượng lập nghiệp. Xóm biển trở nên vắng vẻ, nhiều người ra tận hải đảo như Hòn Tre, hòn Sơn Rái, theo nghiệp chài lưới. Mỗi lần ra chợ hẩu quan chủ tỉnh Lang Sa(10), Tổng Bá không còn đốt pháo làm hiệu lịnh nữa: đốt vô ích, chỉ lơ thơ vài người chạy tới. Tổng Bá mướn thợ về xây nhà, làm hàng rào kiên cố mặc dầu tiền bạc ông ta chẳng còn bao nhiêu. Ông ta hút á phiện(11) để giải sầu, đêm đêm thức từng chập khi nghe chuột chạy, dế kêu.
Sợ ăn cướp, sợ ma.
Vùng đất hoang ở U Minh Thượng đã nở rộ câu hò tiếng hát. Bà Cai chẳng hiểu chồng mình dạo chơi phương nào. Bà muốn lập bàn thờ, nhưng dân chúng ngăn cản vì chưa có bằng cớ gì chứng tỏ ông Cai đã chết. Đôi khi cọp về viếng xóm, có người đến nhà bà Cai để cầu cứu. Bà nói:
– Nhà tôi để lại cái áo rách đây! Anh em mặc thử xem. Có lẽ cọp còn nhớ mùi mồ hôi quen thuộc của ổng.
Họ mặc áo của ông Cai, quát to cố ý cho cọp nghe. “Đi ra xa! Thử hửi(12) mồ hôi thì biết ta là ai!”. Thế là cọp rút lui. Lần hồi, chiếc tàn y nọ rách nát. Người đi rừng bèn xưng danh hiệu, vắn tắt:
– Tao là Cai Thoại đây!
Mười lần như một, cọp đều chạy trốn.
Vài chục năm sau, tin rằng ông Cai đã chết, mấy ông kì lão(13) trong xóm bàn bạc, muốn hùn(14) tiền cất ngôi miếu nhỏ thờ ông. Nhưng vừa hùn tiền xong lại nghe tin ông Cai Thoại còn sống nhăn(15). Bằng cớ là đêm đêm, người đi bắt trăn giữa rừng đã gặp ông thấp thoáng bên đống lửa, trong sương mù, kế bên có con cọp bạch quỳ xuống chầu chực. Lời đồn đại còn kèm thêm chi tiết: Ông Cai ngồi, uống rượu, thỉnh thoảng vỗ vai cọp, nói tiếng gì, không ai nghe được, nhưng cọp gật đầu.
(SƠN NAM, in trong Biển cỏ miền Tây, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2004)
*Giải nghĩa từ ngữ
(1) Gẫm: ngẫm, suy ngẫm.
(2) Cai Thoại: ông cai tên là Thoại (cai: chức thấp nhất trong tổ chức quân đội thời nhà Nguyễn).
(3) Nguyễn Trung Trực (1838 – 1868): thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp vào nửa cuối thê kỉ XIX ở Nam Bộ.
(4) Sanh tệ: sinh ra thói xấu.
(5) Mặc dịch, mặc gió: bị dịch bệnh, trúng gió.
(6) Lần hồi: dần dà, thay đối từ từ theo thời gian.
(7) Công: đơn vị dân gian đo diện tích ruộng đất ở Nam Bộ, bằng khoảng 1/10 hoặc 1/7 hecta, tuỳ theo vùng.
(8) Khinh dễ: coi thường.
(9) Táp: ngoạm, đớp mạnh, nhanh bằng miệng há rộng.
(10) Lang Sa: nước Pháp (theo cách gọi cũ).
(11) Á phiện: thuốc phiện.
(12) Hửi: ngửi.
(13) Kì lão: người già cả.
(14) Hùn: góp chung lại để làm việc lớn.
(15) Sống nhăn: nghĩa là vẫn còn sống khoẻ.
“Hai Cõi U Minh” được sáng tác năm 1965, tác phẩm không chỉ là một câu chuyện về đời sống người dân Nam Bộ mà còn là tác phẩm đậm chất triết lý về mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, giữa sống và chết. Với lối viết giàu hình ảnh và những tình tiết đan xen giữa thực và ảo, Sơn Nam đã khắc họa một bức tranh sống động về đời sống tâm linh của người dân vùng sông nước, để qua đó gửi gắm thông điệp về sự kính trọng đối với thiên nhiên và những giá trị văn hóa truyền thống. Đây là một tác phẩm chứa đựng tâm hồn và giá trị nhân sinh sâu sắc, xứng đáng là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học Nam Bộ.
Post Comment