Kiêu binh nổi loạn

Xuất xứ: Đoạn trích “Kiêu binh nổi loạn” thuộc hồi thứ hai của tác phẩm “Hoàng Lê nhất thống chí”.

Kiêu binh nổi loạn

Tên tác phẩm: Kiêu binh nổi loạn

Tác giả: Ngô Gia Văn Phái

Chữ viết: Chữ Hán

Thể loại: Tiểu thuyết, Tiểu thuyết chương hồi

  • Nội dung đoạn trích
  • Hoàn cảnh sáng tác
  • Bộ sách

KIÊU BINH NỔI LOẠN

(Trích Hoàng Lê nhất thống chí)(1)

NGÔ GIA VĂN PHÁI(*)

Thế tử(1) có người đầu bếp tên là Dự Vũ, vốn là người cơ trí(3) , nói năng rành mạch. Một hôm, thế tử hỏi bên ngoài lòng người ra sao, Dự Vũ đáp:

– Nhà chúa bỏ con cả, lập con út, thiên hạ đều căm ghét, nhất là quân lính lại càng bất bình lắm. Hôm nọ, trong khi tân chúa lên ngôi, theo lệ có ban tiền bạc cho các quân sĩ, nhưng trong quân nhao nhao, có kẻ không chịu nhận tiền ấy. Sau, Quận Huy phải ra lệnh nghiêm cấm, họ mới miễn cưỡng nghe theo, mà trong lòng vẫn còn hậm hực.

Thế tử mừng thầm, đem chuyện ấy bàn với một viên gia thần(4) tên là Gia Thọ. Thọ người làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm, cũng là kẻ tinh khôn, hắn nói với thế tử:

– Lòng người như thế, nếu lấy nghĩa khí mà khích động, khiến cho họ một lòng tôn phù(5), thì việc lớn ắt thành.

Thế tử mừng lắm, bèn sai Dự Vũ làm cơm rượu, mời bọn biện lại(6) trong đám thân quân tới đánh chén, rồi nói với họ rằng:

– Thế tử chẳng có tội gì, nhưng bị mụ đàn bà ác nghiệt họ Đặng làm mê hoặc tiên chúa(7) ,vu tội hãm hại thế tử để cướp ngôi. Còn Quận Huy vốn có chí phản nghịch, lợi dụng vương tử(8) Cán bé dại, dễ kiềm chế, nên hắn mới vào hùa với mụ mà gây ra việc bỏ người này lập người kia, để hắn làm phụ chính cho tiện cái mưu cướp nước của mình. Nay tân chúa bị bệnh nặng, sự nguy biến chỉ trong sớm tối. Không biết rồi đây cơ nghiệp nhà chúa sẽ do ai làm chủ? Ba quân đều là người ở đất “thang mộc”(9) và là binh lính ứng nghĩa, làm nanh vuốt của nhà nước, ai cũng sẵn lòng trung nghĩa. Nếu anh em còn nghĩ đến cái ơn của nhà chúa nuôi nấng trong hai trăm năm, thì hãy nên một lòng giúp đỡ nhà chúa. Mai đây, nếu trời cho xong việc, tất nhiên sẽ có sách son, khoán sắt(10) lưu truyền muôn đời.

Mọi người đều nói:

– Chúng tôi vẫn có bụng đó, nhưng chưa biết ý vương tử ra sao. Sợ đến lúc ấy nhỡ có điều gì kinh động, người lại quở trách chúng tôi gây việc. Nay vương tử đã ngỏ ý cho biết như thế, thì việc này chắc không khó gì.

Sau đó, họ bèn ngầm đi báo cho nhau, hẹn ngày tụ họp ở chùa Khán Sơn.

Lúc quân lính đến hội họp, bàn về việc ấy không ai là không hăng hái. Nhưng họ còn sợ thanh thế Quận Huy, nên chưa biết khởi sự như thế nào cho ổn thoả. Giữa lúc đang bàn bạc như thế, thì bỗng một người đứng phắt lên nói:

– Chỉ sợ anh em không cùng một bụng thôi. Chứ nếu ba quân đồng lòng, thì bất quá chỉ thừa dịp cúng cơm sáng xong, đánh một hồi trống trong phủ làm hiệu rồi kéo ùa cả vào, nắm cẳng hắn, vứt chỏng gọng xuống dưới thềm một cái là xong thôi mà!

Mọi người đều reo mừng hưởng ứng và cùng nhìn về phía kẻ mới nói, thì ra đó là viên biện lại của đội Tiệp bảo(11) tên là Bằng Vũ.

Gã Bằng Vũ này là người huyện Thanh Chương, Nghệ An, ông cha vốn là công thần đời Lê trung hưng. Về sau tập ấm(12) đã hết, con cháu trở nên nghèo nàn. Bằng Vũ được người làng thuê đi lính thay. Gã người thấp bé, thanh nhã như học trò. Sau khi vào đội Tiệp bảo, nhờ biết dăm ba chữ, gã được làm chân biện lại. Ở kinh, gã thường làm mướn đơn kiện cho người ta, vẫn lừng tiếng là tay điêu toa trong việc xui nguyên giục bị (13)

Lúc này, Bằng Vũ thủ xướng(14) ra lời bàn đó, cả bọn liền bầu ngay gã làm chủ mưu, giao cho gã đánh trống trước để thúc giục ba quân.

Bằng Vũ mạnh bạo nhận lời. Rồi cả bọn cùng nhau uống máu ăn thề. Nhưng họ không dự định ngày nào, chỉ hẹn nhau, hễ nghe hiệu trống của Bằng Vũ thì cùng kéo đến để khởi sự.

[…] Bấy giờ, Quận Huy cũng biết tai hoạ sắp xảy ra, liền nói toạc ra ở trong triều rằng:

– Ngày mai có biến, tôi sẽ chết. Nhưng tôi chết cũng phải có dăm ba mạng đi theo.

Các quan nói:

– Lẽ nào lại có chuyện ấy?

Quận Huy bèn đưa ra một tờ khải(15) nói là Huy Bá tố cáo Quận Viêm đang âm mưu làm phản và xin các quan hãy tra xét để trừng trị.

Gặp lúc trời sắp tối, người nhà Quận Huy có kẻ khuyên hắn nên bế tân chúa đi trốn, rồi gọi quân bên ngoài vào bắt bọn gian; có kẻ khuyên hắn nên đưa nghĩa sĩ vào trong phủ để tự vệ… Nhưng Quận Huy đều gạt đi mà rằng:

– Xưa nay, thói đời vẫn hay phao nhảm, chưa chắc việc đó đã có thật. Mà dù có đi nữa thì cứ để thong thả rồi cũng tra ra, chúng nó trốn đi đằng nào được. Nếu việc gấp quá không thể trị nổi bọn chúng, thì ta đây vâng mệnh của đấng tiên vương, sống thác cũng cam, cần gì mà phải hốt hoảng!

Đêm ấy, Quận Huy ngủ ở trong phủ, cũng chỉ đem theo vài người hầu như mọi ngày, không hề phòng bị gì hết.

Sáng mai, lễ cúng cơm bữa sáng vừa xong, các quan đang sắp lui trào, Bằng Vũ vào trong phủ, đánh luôn ba hồi, chín tiếng trống. Các quan ngơ ngác nhìn nhau. Quận Huy sai người đóng chặt cửa các(16) , bắt trói Bằng Vũ đem chém. Khi Bằng Vũ đã bị trói rồi, Thuỳ trung hầu bảo Quận Huy rằng:

– Bọn chúng lập mưu này không phải chỉ có một đứa, nếu chém Bằng Vũ thì đảng gian sẽ lọt lưới hết. Chỉ bằng hãy giam nó lại, để tra xét thêm cho tiệt hết mầm loạn.

Quận Huy cho là phải, thế là Bằng Vũ không bị giết chết. Lại nói, quân lính nghe thấy tiếng trống tức thì người nào cũng nhảy nhót hăng hái, cùng cầm binh khí xô lấn nhau mà vào trong phủ.

Lúc ấy, cửa các đã đóng, quân lính ở bên ngoài không vào được, họ cứ đứng hò reo, quát tháo long trời lở đất.

Quận Huy gọi Quận Châu ra bảo:

– Cậu(17) giữ chức bình phiên(18) ,làm sao không biết răn đe chúng nó?

Quận Châu sợ hãi, vâng dạ mà ra.

Quận Huy tự làm tờ khải rằng:

“Lí tôi kính khải như sau: Tôi được tiên vương giao cho giúp đỡ nhà chúa. Nay ba quân nổi loạn, làm cho kinh khuyết náo động. Tôi xin vâng lĩnh mệnh chúa, đem quân giết chúng. Nếu dẹp được, ấy là nhờ oai linh của chúa, nhược bằng không dẹp được, tôi cũng xin liều chết để xuống ra mắt tiên vương dưới âm cung.”.

Khải làm xong, Quận Huy giao cho quan xuất nạp(19) dâng trình và xin lấy thanh bảo kiếm của chúa để ra đánh giặc. Khi bảo kiếm tới, Quận Huy quỳ gối lĩnh nhận, rồi lập tức truyền lấy voi để ra trận.

Lúc ấy, Quận Châu đang đứng ở phía trái trong cửa các, cách quân lính một bức tường, lên tiếng dụ họ rằng:

– Làm lính phải biết lễ phép. Nay tử cung(20) còn quàn ở đây, các người không được làm ồn ào như vậy. Nếu có gì muốn nói, cứ viết một tờ khải đem lại, ta sẽ trình bày giúp.
Quân lính thét lên:

Cậu cũng định theo Quận Huy làm phản à? Nếu cậu không mở ngay cửa ra, chúng tôi trèo tường mà vào, thì xác cậu sẽ nát như cám!

Quận Châu run sợ, phải mở cửa. Quân lính chen vai xông vào. Quận Huy chống kiếm lên voi, cưỡi ra giữa sân phủ, trỏ ba quân quát:

– Bở ba quân, các ngươi ở đâu về đấy ngay, không được làm ầm ĩ, ta sẽ chém đầu chúng mày!
Quân lính vốn sợ Huy, thấy hắn cưỡi voi, lại càng khiếp đảm, đều ngồi sụp xuống nghe lệnh, không dám lên tiếng, cũng không dám xông tới. Nhưng chỉ được một lát, bao nhiêu người đang ngồi lại nhao nhao đứng dậy, kéo ập vào trước đầu voi. Voi vươn đầu ra húc, quân lính chạy quanh chân voi để tránh cặp ngà. Rồi họ lấy khí giới đâm chém túi bụi, có kẻ cạy gạch ngói ở phủ ra ném tới tấp, voi co vòi mà gầm, không dám húc nữa. Quận Huy giương cung định bắn, chẳng may cung bị đứt dây; lại vớ lấy súng để nạp đạn nhưng mồi lửa tịt không cháy. Quân lính thừa dịp dùng luôn câu liêm(21) lôi viên quản tượng(22) xuống đất mà chém. Voi bước lùi trở lại. Quân lính xúm đến vây kín dưới chân voi. Quận Huy lấy mũi lao phóng xuống làm bị thương vài người. Quân lính hăng máu kéo đến càng đông. Lại có một toán ở cửa Tuyên Vũ xông vào, đứng chắn ở đằng sau voi, khiến voi phải đứng yên không thể nhúc nhích. Họ bèn dùng câu liêm móc cổ Quận Huy kéo xuống, rồi đánh đấm túi bụi, giết chết ngay tại chỗ. […]

Em ruột Quận Huy là Lý Vũ hầu Hoàng Lương nghe tin có biến vội vàng chạy bổ vào phủ đường(23) . Nhưng mới đến cửa chùa Báo Thiên thì bị quân lính quát đứng lại, rồi họ vớ luôn gạch đá trên đường đập cho vỡ đầu và vứt xác xuống hồ Thuỷ Quân(24).

Anh em Quận Huy chết rồi, quân lính vui mừng reo hò như sấm. Họ kéo nhau vào nhà Tả Xuyên phò thế tử Tông lên phủ đường. Họ kiệu thế tử lên vai, rồi đứng xúm xung quanh, gào lên vui sướng:

– Xin ngồi cao thêm nữa để thiên hạ đều được thấy mặt rồng, cho thoả lòng vui của mọi người!

Trong lúc gấp vội không có kỉ sập, họ phải dùng tạm chiếc mâm vẫn bày cỗ lộc làm ghế, đặt thế tử ngồi lên, rồi tám người kề vai vào khiêng. Chốc chốc, họ lại nâng bổng chiếc mâm lên trên đầu mà đội; đầu mỏi lại hạ xuống vai, rồi vai mỏi lại nâng lên đầu. Cứ thế lên lên xuống xuống y như người ta giỡn quả cầu hoặc rước pho tượng Phật. Mỗi lần thế tử được nhô lên cao, quân lính lại vỗ tay reo hò vang lên một chặp. Những kẻ buôn bán ở các phố phường, chợ búa đều tranh nhau kéo đến xem mặt chúa, sân phủ đông như họp chợ.

Quận Châu phải đem ngọn cờ đuôi báo phất ở giữa sân, rồi khua chiêng thu quân, mãi đến hơn một trống canh mới yên.

Mấy hôm trước, ngày nào trời cũng u ám. Hôm ấy, tự dưng bầu trời lại trong sáng, mọi người đều cho đó là cái điềm thái bình, thánh chúa. Kẻ qua người lại trên đường đều hí hửng nói: “Chúa ta lập rồi!”. Thế rồi, họ truyền miệng nhau mà reo mừng, kinh kì hôm ấy vì thế mà phải nghỉ phiên chợ
Quân lính đặt chiếc sập ngự ở ngoài phủ đường, các quan đều dìu thế tử lên ngôi chúa. Cuộc lễ mừng xong rồi, các quan mới đem đạo sắc của nhà vua và tờ chỉ của thánh mẫu dụ ba quân về việc phò lập chúa, tới dán ở cửa các. Những tờ ấy đều là tạm thời thảo ra, nhưng được gọi là mệnh lệnh định sẵn. […]

Lại nói, bọn quân lính tuy đã giết chết anh em Quận Huy, nhưng cơn giận vẫn chưa hả. Phò lập thế tử Tông lên ngôi chúa xong xuôi, họ lại kéo đến quỳ ở trước mặt chúa xin phá tất cả dinh cơ của Quận Huy. Chúa ưng lời ngay. Ba quân liền reo lớn:

– Quan cứ lệnh, lính cứ truyền, mau đi phá huỷ dinh Quận Huy, anh em ơi!

Chỉ trong chốc lát, nhà cửa của Quận Huy bị phá tan tành, một mảnh ngói cũng không còn. Rồi bọn quân lính càng thừa thể hoành hành. Phàm các quan văn võ hễ ai thuộc bè đảng của Thị Huệ và Quận Huy, cùng những người dự vào việc tố giác vụ án năm Canh Tí(25), những viên quan hầu mọi ngày có tính nghiệt ngã mà quân lính vẫn ghét, lúc ấy cũng đều bị phá nhà hàng loạt và bị lùng bắt đem giết chết.

Luôn trong mấy ngày, họ làm náo động cả kinh thành. Tông phải hạ chỉ ngăn cấm mà họ vẫn không thôi.

Sau, chúa phải sai người dò xét trong kinh kì, lén đến chỗ họ tụ họp, rồi bắt phứa một người thường dân ở gần đó đem chém để ra oai. Từ đó về sau, việc phá phách nhà cửa mới tạm ngừng, nhưng việc lùng bắt người để giết vẫn chưa dứt.

(Hoàng Lê nhất thống chí, NGUYỄN ĐỨC VÂN và KIỂU THU HOẠCH dịch,

NXB Văn học, Hà Nội, 1964)

*Giải nghĩa từ ngữ

(*) Ngô gia văn phái: một nhóm tác giả dòng họ Ngô Thì, làng Tả Thanh Oai, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội). Trong đó, Ngô Thì Chí và Ngô Thì Du là hai tác giả chính. Ngô Thì Chí (1753 – 1788) làm quan dưới thời vua Lê Chiêu Thống. Ngô Thì Du (1772 – 1840) làm quan dưới thời nhà Nguyễn.

(1) Hoàng Lê nhất thống chí: ghi chép về công cuộc thống nhất của vương triều nhà Lê.

(1) Thế tử: con trai được chọn để nối nghiệp chúa, ở đây chỉ Trịnh Tông.

(2) Cơ trí: người có nhiều mưu trí, biết ứng phó linh hoạt.

(3) Gia thần: người giúp việc trong gia đình vua chúa, quan lại, ở đây chỉ thuộc hạ thân tín của Trịnh Tông.

(4) Tôn phù: (tôn: kính trọng; phù: giúp đỡ) ở đây chỉ việc phe Trịnh Tông mong muốn kiêu binh xem trọng và giúp đỡ để đoạt lấy ngôi chúa từ phe Trịnh Cán.

(5) Biện lại: người giữ việc biên chép trong tổ chức hành chính thời phong kiến, thường kiêm việc biện bác, tranh tụng.

(6) Thân quân: binh lính thân cận, gần gũi.

(7) Tiên chúa: chúa trước (đã qua đời), ở đây chỉ chúa Trịnh Sâm.

(8) Vương tử. con trai của người được phong tước vương.

(9) Đất “thang mộc”: quê hương của vua chúa, ở đây chỉ Thanh Hoá – quê hương của vua Lê, chúa Trịnh.

(10) Sách son, khoán sắt: văn thư viết bằng son, khoán ước chế bằng sắt, ban cho bầy tôi có công để tỏ ý cùng được hưởng phú quý lâu dài với nhà vua, lưu truyền muôn đời.

(11) Đội Tiệp bảo: đội thân binh hầu hạ.

(12) Tập ẩm: trong chế độ phong kiến, những người làm quan, tuỳ theo thứ bậc, con cháu đều được nối nghiệp, gọi là tập ấm, tập ấm đã hết tức là đến lúc con cháu không được hưởng tập ấm nữa.

(13) Xui nguyên giục bị: xúi bẩy, kích động cả người kiện (nguyên đơn) lẫn người bị kiện (bị cáo), làm cho hai bên thêm mâu thuẫn, chịu thiệt hại còn mình thì đứng giữa hưởng lợi.

(14) Thủ xướng (như khởi xướng): đề ra, nêu ra đầu tiên cho mọi người hưởng ứng, làm theo.

(15) Tờ khải: giấy tờ của các quan đệ trình lên vua chúa.

(16) Các: nơi làm việc của các quan trong một Bộ.

(17) Cậu: Quận Châu là bà con họ ngoại của chúa Trịnh, do đó gọi là cậu.

(18) Binh phiên: một cơ quan quyền lực do chúa Trịnh đặt ra để trông coi việc binh bị, quốc phòng,… tồn tại song song và tương đương với Bình bộ của triều đình vua Lê.

(19) Xuất nạp: một chức quan hầu cận của vua chúa, chuyên giữ việc phát nhận giấy tờ và truyền đạt mệnh lệnh.

(20) Tử cung: quan tài của vua chúa. Ở đây chỉ quan tài của chúa Trịnh Sâm chưa được an táng.

(21) Câu liêm: tên một loại vũ khí gồm một lưỡi quắm hình lưỡi liềm lắp vào cán dài, dùng để móc vào mà giật, cắt những vật ở trên cao, ở xa.

(22) Quản tượng: người trông nom và điều khiển voi.

(23) Phủ đường: nơi làm việc của các quan tri phủ thời xưa.

(24) Hồ Thuỷ Quân: hồ Hoàn Kiếm bây giờ.

(25) Vụ án năm Canh Tí: chỉ việc thế tử Tông mưu cướp ngôi năm 1780 không thành, bị Trịnh Sâm phế truất xuống làm con út.

Hoàng Lê nhất thống chí là một tác phẩm ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây Sơn diệt Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê. Tác phẩm không chỉ dừng lại ở sự thống nhất của vương triều nhà Lê mà còn được viết tiếp, tái hiện một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam vào 30 năm cuối thế kỉ XVIII và mấy năm đầu thế kỉ XIX. Cuốn tiểu thuyết bao gồm 17 hồi. Đoạn trích “Kiêu binh nổi loạn” kể chuyện kiêu binh nổi loạn giết Quận Huy Hoàng Đình Bảo, phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi chúa.

  • SGK Ngữ văn Cánh Diều lớp 10 tập 2.
  • Post Comment