Mắc mưu Thị Hến

Mắc mưu Thị Hến

Tên tác phẩm: Mắc mưu Thị Hến

Tác giả: Tác giả dân gian

Chữ viết: Chữ Quốc Ngữ

Thể loại: Tuồng

  • Nội dung đoạn trích
  • Hoàn cảnh sáng tác
  • Bộ sách





MẮC MƯU THỊ HẾN

NGHÊU:

Trời tăm tối đi hầu bổ(1) ngửa,

Cây bụi bờ rờ(2) chăng ra đường

(Này! Này! Thím ơi! Mỗ(3) đã sang.

Mở cửa Mình vào với!)(4)

THỊ HỀN:

Chào thây mới tới,

Trà nước vội vàng

Đành lòng đây đó giao duyên,

(Nhưng) Sợ nỗi thế gian đàm tiếu (thôi).

NGHÊU:

Vốn đà trước liệu,

Lựa phải sau lo.

Kệ kinh chuông mõ trả cho chùa,

Cày, cấy, đâm, xay đành phận mỗ.

(Này này!) Khuyên cùng với đó,

Chớ khá phụ đây

Tuy làm vầy(5) cũng tiêng ông thây.

Ở như vậy uổng tài bà goá

(Tiếng Đề Hầu kêu cửa)

THỊ HIÊN:

(Ủa!) Tiềng ai kêu chi lạ?

Hay thầy Lại tới đây?

(Này! Này! Mô Phật!)

Đi ra kẻo tội với thầy,

Ở đó ắt tai(6) trước mắt! (Chớ chẳng chơi đâu.)

NGHÊU:

(Trời trời!)

Lão Đề lại làm chi quá ngặt?

Khiến thầy tu chạy đã hầu điên.

(Thím ơi! Thím!)

Trốn chỗ nào khác chỉ cho min(7) !

(Chớ) Ra cửa có thầy Đề đứng đó!

THỊ HỀN:

Dưới phản ngựa thầy mau xuống đó.

(Để tôi) Ra ngõ mời người đặng vào đây.

Dầu chuyện chi chịu khó một giây.

(Đế) Người về đã, sẽ vây(8) hai mặt

(Nghêu chui xuống gầm phản, Đề Hầu vào)

Lại nói: (Thưa thầy!)

Nghe kêu lật đật,

Mở cửa vội vàng,

Thỉnh lại gia trang(9)

Sẽ bày tình tự.

ĐỀ HẦU:

Ơn mỗ cứu cho bữa trước,

Nay nường còn nhớ chưa quên?

Sao đã cùng ông Huyện kết duyên,

Mà vội phụ thầy Đề tình ngãi (hử)?

THỊ HẾN:

Xin thầy hãy nghĩ lại,

Quan Huyện dạy, (tôi) phải vâng.

Đành đôi ta là cái duyên hằng(10)

(Thế mà) Không nghe đó, sao cho yên việc (a thưa thầy?)

ĐỀ HẦU:

(Phải lắm! Thế mới biết)

Đèn không khêu không tỏ,

Chuông không đánh không kêu.

(Ta nói thiệt)

Đó không thương đây cũng quyết liều,

(Chử) Duyên đã khẳn(11) nường tua(12) giữ dạ.

THỊ HẾN:

Ân ái việc còn thong thả,

Rượu trà xin hãy vui chơi!

Chẳng mấy khi đặng hiệp một nơi,

Bây giờ đã gặp nhau hai mặt.

(Chừ có việc này)

Tôi xin hỏi thiệt, thấy khá tỏ bày!

Thầy hằng xem luật lệ xưa nay,

Tu (mà) phá giới, tội chỉ khinh trọng(13) (thưa thầy?)

ĐỀ HẦU:

Lỗ tai nghe quá chướng,

Trong luật lệ rất to,

Hễ phá giới tức hành trảm quyết(14)

(Huyện Trìa tới)

HUYỆN TRÌA:

(Nói ngoài cửa)

Viên ngoại diêu văn tế thuyết,

Môn tiền hữu ngã quan nhơn(15)

Mở cửa ra! Mau tiếp đại tân!

Ở mụ! Kíp kíp ra mời quan Huyện (nào!)

ĐỀ HẦU:

(Chui chao!)

Văn ngôn sắc biến! Sắc biến!

Thính thuyết hồn kinh! Hồn kinh(16)!

Nếu mà ông Huyện tri tình,

Chắc hẳn thầy Đề mang khổ!

(Đề Hầu trốn, ông Huyện vào)

HUYỆN TRÌA:

Việc thuế má án từ quá gấp,

Đêm tối tăm đàng xá (lại) khó đi.

Tưởng mụ đà tới lúc ngủ khì,

Làm mỗ chạy ướt hầu bổ sấp.

Khi sớm, tối đợi mình lâu lắm,

Từ rày xin tới mụ cho liên,

Gẫm đà phải nợ phải duyên,

Thôi chớ làm hòn, làm giận (nữa mà!)

THỊ HÊN:

Nghĩ mà tủi phận,

Đâu dám trách ai,

(Nhưng tôi nghĩ lại như ông)

Vợ còn, con sẵn, thiếu chỉ,

(Mà buộc tôi không đặng?)

Trai quá gái không thường lệ,

(Tôi cũng) Cam phận thiếp muối trường cơm tẻ,

(Nhưng mà tôi)

E chánh thê cả tiếng nhiều lời (đó thôi!)

(Cho nên tôi)

Lánh một xó, lọ một nơi,

Khó trối thây, giàu ai chẳng luỵ!

HUYỆN TRÌA:

(Ui chao! Chừ!)

Ta nghỉ ngơi kèo mệt,

Nói dài lắm cũng buồn.

Khuyên khuyên xin chớ làm tuồng,

Bớt bớt xin đừng nói bợm!

THỊ HÊN:

Sợ gan ruột đàn ông nhiều lớp,

Việc nợ duyên dễ thiếp mấy nơi?

Rượu trà hãy xin mời,

Ái ân rồi có đó.

(Bây giờ tôi xin nhờ quan)

Vốn tôi chưa rõ, Xin hỏi một lời:

Người từng xem luật lệ nơi nơi,

(Là) Có một việc ở đời lạ lạ.

Rầy có chú thầy tu rất chạ(17)

Hay tới nhà mà ve bà goá;

Đã xuất gia, phá giới làm vơ(18),

Thời luật pháp xử chỉ cho rõ

HUYỆN TRÌA:

(Uẩy!)

Nói làm chi việc rối,

Ai có tiếc làm chi.

Phàm tu hành mà đã xuất gia,

Có phá giới đánh đòn phát lạc(19)!

NGHÊU:

(Từ gầm giường bò ra)

Tâm khoái lạc! Tâm khoái lạc!

Thiện xử phân! Thiện xử phân(20)!

(Bẩm quan lớn, lời quan dạy rất minh, chớ thầy Đề ngồi trong thúng mơ nói mới ức chớ! Bấm quan lớn!

Chơn vi phụ mẫu chi dân(21)!

(Chứ thầy Đề)

Chỉ thị dâm ô chỉ loại(22)!

Như thầy tu phá giới,

Thời bất quá đánh đòn.

Còn thầy Lại phạm gian

Thật ắt là tội chết!

ĐỀ HẦU:

(Lồm cồm bò ra)

Đầu đuôi tại mụ Hến,

Mưu mẹo bởi lão thầy tu

Rày quan Huyện trớ trêu

Mặc đàn bà quá tội.

Tôi cam chịu lỗi,

Ai biết mà chê!

Trong nha môn cả Huyện đến Đề,

Còn tạo lệ(23) không mời luôn thể!

HUYỆN TRÌA:

Thầy Lại làm nên quá tệ,

Như nhà sư bắt chước cố trêu.

Mắc cỡ lêu lêu!

Lêu lêu mắc cỡ!

Rất nên quái gở,

Làm việc lăng nhăng!

Hễ miếng to bay quyết kiếm ăn,

Còn đồ vặt bay làm sạch trụi.

Thầy tu khá lui về cho khỏi,

Đề lại mau cõng mỗ về nhà.

Dằn lòng thôi chở ngứa nghề,

Giữ dạ đừng tham của lạ.

(Hạ)

THỊ HẾN:

Tâm khoái dã! Tâm khoái dã!

Kế hoan nhiên! Kế hoan nhiên(24)!

Thế thầy tu hết tới ngõ nói điên,

Rày quan Huyện hết đến nhà làm bậy.

Giữ tiết hạnh một niềm cho toại,

Nỗi nhơn duyên đôi chữ không màng.

(Theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 12, NXB Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2000)

* Giải Nghĩa Từ Ngữ

(1) Bổ: ngã.

(2) Rờ sờ.

(3) Mỗ: ta, tôi.

(4) Các từ ngữ trong ngoặc đơn là lời đưa đẩy, tiếng đế thêm của nhân vật, dùng để lưu ý diễn viên lên giọng hoặc xuống giọng khi diễn.

(5) Làm vầy: làm như vậy

(6) Tai: điều rủi ro bất ngờ xảy tới.

(7) Min: ta, tôi (xưng với người dưới).

(8) Vầy: sum họp, đoàn tụ.

(9) Thỉnh lại gia trang: mời vào trong nhà.

(10) Duyên hằng: tình cảm gắn bó lâu dài, không thay đổi.

(11) Duyên đã khăn: duyên đã hứa.

(12) Tua: hãy, nên.

(13) Khinh trọng: nặng nhẹ (khinh: nhẹ, trọng: nặng).

(14) Trảm quyết: chém đầu.

(15) Ngôn từ trong tuồng dân gian chủ yếu là ngôn từ thuần Việt nhưng vẫn xen kẽ một số câu chữ Hán. Câu văn chữ Hán trong tuồng đồ thường có ý vị hài hước. Viên ngoại diêu văn tế thuyết, / Môn tiền hữu ngã quan nhơn: Ngoài vườn nghe tiếng nhỏ, to / Trước cửa có ta, một vị quan nhân.

(16) Văn ngôn sắc biển! Sắc biến! / Thính thuyết hồn kinh! Hồn kinh!: Nghe nói biến sắc! Nghe nói kinh hồn!

(17) Chạ: lẫn lộn, bừa bãi. Nghĩa trong bài: không tuân theo các quy định của việc tu hành.

(18) Làm vơi làm việc không đúng.

(19) Phát lạc: chiếu lệ cho có.

(20) Tâm khoái lạc! Tâm khoái lạc! / Thiện xử phân! Thiện xử phân!: Lòng vui sướng! Lòng vui sướng! /Phân xử đúng! Phân xử đúng!

(21) Chơn vi phụ mẫu chi dân: Thật đúng là cha mẹ của dân.

(22) Chỉ thị dâm ô chi loại: Đích thị là loại dâm ô.

(23) Tạo lệ: người phục dịch, hầu hạ trong nha môn như tuần phu, lính lệ.

(24) Tâm khoái dã Tâm khoái dã! / Kế hoan nhiên! Kể hoan nhiên!: Vui lòng quá! Vui lòng quá! / Mưu kế đã thành! Mưu kế đã thành!

Xuất xứ: Đoạn trích “Mắc mưu Thị Hến” được trích trong vở tuồng “Nghêu, Sò, Ốc, Hến”. Nhan đề “Mắc mưu Thị Hến” do người biên soạn sách đặt.

SGK Ngữ văn Cánh Diều tập 1

Post Comment